콩지와 팥쥐 (Kongji và Patji)

옛날 어느 마을에 사이좋은 부부가 살았단다.
Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có một cặp vợ chồng sống rất hòa thuận.

부부가 바라는 것이 있다면 그건 예쁜 아이를 갖는 것이었어.
Điều họ mong mỏi nhất chính là có một đứa con xinh xắn.

아내 (Người vợ):
“여보, 어서 아이가 생겼으면 좋겠어요.”
“Anh à, em mong sớm có con quá.”

남편 (Người chồng):
“매일 기도하고 있으니 조금만 더 기다려봅시다.”
“Mỗi ngày em đều cầu nguyện, hãy chờ thêm một chút nữa thôi.”

마침내 부부에게도 귀여운 여자아이가 태어났어.
Cuối cùng, họ cũng có một bé gái đáng yêu chào đời.

남편:
“허, 어쩜 이렇게 예쁠까? 여보, 아기 이름을 뭘로 지으면 좋을까요?”
“Ôi, sao mà con bé đáng yêu thế này! Anh à, chúng ta nên đặt tên con là gì nhỉ?”

아내:
“글쎄… 아, 콩지! 공처럼 야무지고 쥐처럼 부지런하라는 뜻에서 말이오.”
“Ừm… à, gọi là Kongji! Nghĩa là mong con sẽ nhỏ bé như hạt đậu, siêng năng như con chuột.”

하지만 부부의 기쁨은 오래가지 않았어. 콩지 어머니가 깊은 병에 걸리고 말았거든.
Nhưng niềm vui chẳng kéo dài bao lâu. Mẹ của Kongji đã lâm bệnh nặng.

어머니 (Người mẹ):
“아… 아퍼… 우리 콩지… 콩지를 잘 돌봐줘요…”
“Anh à… con Kongji… hãy chăm sóc con bé thật tốt nhé…”

시름시름 앓던 어머니는 결국 하늘나라로 떠나버렸어.
Người mẹ vốn đã bệnh nặng, cuối cùng cũng rời bỏ thế gian về cõi thiên đàng.

아버지는 너무나 슬펐지만 젖동냥을 해가며 정성스럽게 콩지를 키웠어.
Người cha buồn lắm, nhưng vẫn đi xin sữa và chăm chút nuôi nấng Kongji.

콩지:
“아버지, 밥은 제가 할게요. 저도 이제 다 컸는걸요.”
“Cha à, việc cơm nước để con làm cho. Con đã lớn rồi mà.”

콩쥐는 예쁘고 건강하게 자랐지만 아버지는 콩쥐가 안쓰러웠어.
Kongji lớn lên vừa xinh đẹp vừa khỏe mạnh, nhưng cha thì thấy con bé thật tội nghiệp.

아버지 (trầm ngâm):
“엄마가 있었으면 저런 고생은 하지 않았을 텐데…”
“Nếu như mẹ còn sống, con bé đã chẳng phải vất vả thế này…”

고민하던 아버지는 새엄마를 맞기로 했어.
Nghĩ đi nghĩ lại, cha quyết định sẽ cưới một người mẹ kế.

아버지:
“콩지야, 새엄마와 살아도 괜찮겠니?”
“Kongji à, con sống cùng mẹ kế có ổn không?”

콩지:
“네, 아버지. 외로우실까 봐 걱정돼요. 그럼요, 좋아요.”
“Vâng ạ, thưa cha. Con sợ cha sẽ cô đơn. Con đồng ý ạ.”

며칠 뒤 콩지는 새엄마와 그 딸 팥쥐와 함께 살게 되었어.
Vài ngày sau, Kongji bắt đầu sống cùng mẹ kế và con gái riêng của bà, tên là Patji.

새어머니:
“아, 네가 콩지니? 듣던 대로 아주 곱구나. 팥쥐야, 인사해.”
“Ồ, con là Kongji phải không? Đúng như lời đồn, thật là ngoan hiền. Patji, chào chị đi.”

팥쥐:
“안녕하세요, 콩지 언니.”
“Em chào chị Kongji.”

새어머니:
“팥쥐는 너보다 어리니까 언니처럼 잘 돌보다오.”
“Patji nhỏ hơn con, nên con hãy chăm sóc nó như em gái nhé.”

콩지:
“그럼요, 걱정 마세요, 새어머니.”
“Vâng ạ, mẹ kế đừng lo.”

며칠 뒤 콩지는 새엄마와 그 딸 팥쥐와 함께 살게 되었어.
Vài ngày sau, Kongji bắt đầu sống cùng mẹ kế và con gái riêng của bà, tên là Patji.

새어머니:
“아, 네가 콩지니? 듣던 대로 아주 곱구나. 팥쥐야, 인사해.”
“Ồ, con là Kongji phải không? Đúng như lời đồn, thật là ngoan hiền. Patji, chào chị đi.”

팥쥐:
“안녕하세요, 콩지 언니.”
“Em chào chị Kongji.”

새어머니:
“팥쥐는 너보다 어리니까 언니처럼 잘 돌보다오.”
“Patji nhỏ hơn con, nên con hãy chăm sóc nó như em gái nhé.”

콩지:
“그럼요, 걱정 마세요, 새어머니.”
“Vâng ạ, mẹ kế đừng lo.”

새엄마는 겉으론 콩지를 친딸처럼 아껴주는 것 같았어.
Mẹ kế bề ngoài tỏ ra thương Kongji như con ruột.

새어머니:
“콩지야, 그렇게 먹어서 되겠니? 자, 이 밥 좀 더 먹으렴. 설거지는 엄마가 할게. 넌 좀 쉬어라.”
“Kongji à, con ăn uống kiểu đó có được không? Nào, ăn thêm cơm đi. Việc rửa bát để mẹ làm, con nghỉ ngơi đi.”

새어머니:
“팥쥐야, 그릇 좀 들고 와.”
“Patji, mang bát này lại đây.”

팥쥐:
“저요? 아직 밥 다 안 먹었는데요…”
“Con còn chưa ăn xong mà ạ…”

새어머니 (화를 내며):
“그만!”
“Im ngay!”

하지만 아버지가 안 계실 때는 새엄마가 콩지를 부려먹었어.
Nhưng khi cha không có ở nhà, mẹ kế chỉ sai bảo mỗi Kongji.

새어머니:
“아휴, 콩지 너는 아직도 걸레질이니? 얼른 치우고 빨리 빨래나 좀 해 와!”
“Ôi trời, Kongji, con vẫn còn đang lau dọn à? Mau dọn xong rồi đi giặt đồ nhanh lên!”

콩지:
“네, 어머니…”
“Vâng, thưa mẹ…”

새어머니:
“빨리빨리 서둘러! 동작이 그리 굼떠서 어쩌자는 거야? 아휴, 짜증나!”
“Nhanh lên! Sao làm việc chậm chạp lề mề thế này? Thật là bực mình!”

어느 날, 아버지가 집에 돌아와 콩지를 보며 걱정했어.
Một ngày nọ, cha trở về nhà và lo lắng khi nhìn thấy Kongji.

아버지:
“콩지야, 안색이 좋지 않구나. 어디 아프니?”
“Kongji, sắc mặt con không tốt. Con bị bệnh à?”

콩지 (머뭇거리며):
“저… 그게… 아니에요, 아버지. 괜찮아요.”
“Dạ… cái đó… không sao đâu cha, con ổn mà.”

하지만 아버지가 걱정하실까 봐 콩지는 내색을 할 수가 없었어.
Nhưng vì sợ cha lo lắng, Kongji không dám nói ra.

그러나 결국 아버지마저 세상을 떠나고 말았어.
Nhưng rồi cuối cùng, người cha cũng qua đời.

새엄마는 이제 더욱 콩지를 구박하기 시작했지.
Mẹ kế lại càng hành hạ Kongji nhiều hơn.

새어머니:
“공지 너! 그 비단옷은 팥쥐에게 주고 앞으로는 이 옷을 입도록 해!”
“Kongji kia! Đưa bộ áo lụa đó cho Patji, từ giờ con chỉ được mặc cái áo này thôi!”

새어머니 (중얼거리며):
“아휴, 남편도 없는데 의붓딸까지 건사해야 하다니… 내 팔자야…”
“Ôi trời, chồng thì không còn, giờ còn phải nuôi cả con ghẻ… số tôi sao mà khổ thế này…”

어느 날, 새엄마는 장에 가기 전에 콩지와 팥쥐를 불러 말했다.
Một hôm, trước khi đi chợ, mẹ kế gọi Kongji và Patji lại dặn dò.

새어머니:
“콩지야, 팥쥐야! 내가 장에 다녀올 테니 장독에 물을 가득 채워놓도록 해. 알았니?”
“Kongji, Patji! Mẹ đi chợ, hai đứa hãy lấy nước đầy chum. Nghe rõ chưa?”

“만약 다 채워놓지 않으면 오늘 저녁도 굶을 줄 알아!”
“Nếu mà không đổ đầy thì tối nay khỏi ăn cơm đấy!”

팥쥐:
“네, 어머니.”
“Vâng, thưa mẹ.”

새엄마와 팥쥐는 장에 갔어.
Mẹ kế và Patji đi chợ.

콩지는 쉬지 않고 부지런히 물을 길어 장독에 부었어.
Kongji chăm chỉ gánh nước đổ đầy vào chum.

콩지 (혼잣말):
“이 정도면 반쯤 찼겠지…”
“Chắc cũng đã gần nửa chum rồi…”

그런데 아무리 물을 부어도 장독은 채워지지 않았어.
Thế nhưng, dù gánh nước bao nhiêu đi nữa, chum vẫn chẳng đầy.

콩지 (놀라며):
“어머, 이게 어떻게 된 일이람?”
“Ôi trời, chuyện gì thế này?”

콩지는 당황하여 울먹였어. 어머니가 돌아오기 전에 장독을 채우지 못하면 큰일이었거든.
Kongji hoảng hốt, gần như bật khóc. Nếu mẹ kế trở về mà chum chưa đầy nước, thì sẽ xảy ra chuyện lớn.

그때, 갑자기 커다란 두꺼비 한 마리가 장독 옆에 나타났어.
Đúng lúc đó, một con cóc to lớn bỗng xuất hiện bên cạnh chum.

두꺼비:
“콩쥐님, 울지 마세요. 제가 도와드릴게요.”
“Kongji, đừng khóc nữa. Ta sẽ giúp con.”

콩지 (놀라며):
“두꺼비가… 저를 도와준다고요?”
“Ngài… ngài cóc sẽ giúp con sao?”

두꺼비는 장독의 구멍을 막고 말했어.
Cóc liền lấy thân mình bịt chặt cái lỗ thủng của chum rồi nói:

두꺼비:
“어서 물을 떠오세요. 제가 구멍을 막아드릴 테니, 곧 장독이 가득 찰 거예요.”
“Mau đi gánh nước đi. Ta sẽ bịt cái lỗ này lại, rồi chum sẽ đầy nước thôi.”

콩지는 다시 물을 길어 나르기 시작했어. 신기하게도 물은 차곡차곡 쌓여 장독을 가득 채웠지.
Kongji liền gánh nước về đổ vào, lạ thay, nước dần dần dâng lên và cuối cùng chum đã đầy ắp.

콩지 (기뻐하며):
“정말 고마워요, 두꺼비님! 은혜는 절대 잊지 않을게요.”
“Cảm ơn ngài nhiều lắm, cóc ơi! Con sẽ không bao giờ quên ơn này đâu.”

다음 날, 새엄마는 또다시 콩쥐에게 고된 일을 맡겼어.
Ngày hôm sau, mẹ kế lại giao cho Kongji một công việc nặng nhọc.

새엄마:
“콩쥐야, 이 호미를 가지고 밭의 돌들을 다 치워 놓거라. 해가 지기 전까지 다 끝내지 못하면 가만두지 않겠다!”
“Kongji, cầm lấy cái cuốc này và dọn sạch hết đá ngoài ruộng đi. Nếu trước khi mặt trời lặn mà chưa xong thì đừng trách ta!”

콩쥐는 뙤약볕 아래에서 혼자 열심히 일을 했지만, 돌들은 너무 많았어.
Kongji một mình cặm cụi dưới nắng gắt, nhưng đá trong ruộng thì quá nhiều.

게다가 나무 호미는 금세 뚝 하고 부러지고 말았지.
Thêm vào đó, cái cuốc gỗ chẳng mấy chốc đã gãy “rắc” một cái.

콩지 (슬프게):
“어머니… 이제 어떻게 하지… 부러진 호미로는 밭을 갈 수도 없는데…”
“Mẹ ơi… con biết làm sao bây giờ… cái cuốc đã gãy thì làm sao mà làm ruộng được nữa…”

콩쥐가 눈물을 글썽이는 순간, 어딘가에서 커다란 황소 한 마리가 나타났어.
Đúng lúc Kongji sắp bật khóc, một con bò vàng to lớn bỗng từ đâu xuất hiện.

황소:
“콩쥐님, 제가 밭을 갈아드리겠습니다. 울지 마세요.”
“Kongji, để ta cày ruộng giúp con. Đừng khóc nữa.”

황소는 순식간에 밭을 갈아 엎고 자갈들을 치워주었어.
Chỉ trong chớp mắt, con bò đã cày xong ruộng và dọn sạch đá sỏi.

콩지 (감격하며):
“고마워, 황소야. 은혜는 평생 잊지 않을게.”
“Cảm ơn ngài, bò vàng. Con sẽ không bao giờ quên ơn này.”

며칠 뒤, 마을에 큰 잔치가 열린다는 소문이 퍼졌어.
Vài ngày sau, trong làng vang lên tin đồn sẽ có một lễ hội lớn.

이 소식을 들은 새엄마는 잔뜩 들떠 있었지.
Khi nghe tin này, mẹ kế vô cùng háo hức.

새엄마:
“팥쥐야, 이번 잔치에 우리도 가보자꾸나.”
“Patji, lần này mẹ con ta cũng phải đi dự hội mới được.”

팥쥐 (기뻐하며):
“정말요, 어머니? 신나요!”
“Thật sao mẹ? Tuyệt quá!”

콩쥐는 조심스레 물었어.
Kongji rụt rè lên tiếng hỏi:

콩지:
“어머니, 저도 함께 가도 될까요?”
“Mẹ ơi… con cũng có thể đi cùng được không?”

새엄마는 눈살을 찌푸리며 대답했어.
Mẹ kế cau mày đáp lại:

새엄마:
“너도 가고 싶으면, 우선 쌀을 찧어 놓고, 또 베를 짜놓아라. 그 일을 다 끝내면 생각해 보마.”
“Nếu mày cũng muốn đi, thì trước hết phải giã gạo xong, rồi dệt vải xong. Làm hết đi rồi hãy tính.”

그 말을 남기고, 새엄마와 팥쥐는 고운 옷을 차려입고 집을 나섰어.
Nói rồi, mẹ kế và Patji diện váy áo lộng lẫy, bỏ Kongji ở nhà.

그 모습을 본 콩쥐의 눈에는 눈물이 고였지.
Nhìn cảnh đó, nước mắt Kongji tuôn rơi.

콩지 (속삭이며):
“아버지… 어머니… 저도 잔치에 가고 싶어요…”
“Cha ơi… mẹ ơi… con cũng muốn được đi dự hội…”

콩쥐는 홀로 앉아 떨리는 손으로 절구질을 했어. 하지만 쌀은 너무 많았고, 눈물만 흘러내렸지.
Kongji ngồi một mình, đôi tay run rẩy giã gạo. Nhưng gạo thì quá nhiều, chỉ có nước mắt rơi lã chã.

그때, 창밖에서 작은 소리가 들렸어. 짹짹— 짹짹—
Đúng lúc ấy, ngoài cửa sổ vang lên tiếng nhỏ: “Chíp chíp, chíp chíp—”

수많은 참새들이 모여 절구 위로 내려앉더니 콩쥐를 향해 말했어.
Rất nhiều chim sẻ bay đến, đậu xuống cối giã gạo và cất tiếng nói với Kongji.

참새들:
“콩쥐님, 울지 마세요. 저희가 쌀을 찧어드릴게요. 그러니 어서 잔치에 가보세요!”
“Kongji, đừng khóc nữa. Chúng tôi sẽ giúp giã gạo cho cô. Hãy mau đi dự hội đi!”

콩지 (놀라며):
“정말… 정말 도와주시는 건가요?”
“Thật… thật sự các bạn sẽ giúp mình sao?”

참새들이 힘을 합쳐 절구질을 하자, 산더미 같은 쌀이 순식간에 곱게 빻아졌어.
Lũ chim sẻ đồng loạt giã gạo, và chẳng mấy chốc đống gạo cao như núi đã được xay trắng mịn.

콩쥐가 감격해 고개를 숙이려는 순간, 하늘에서 구름을 타고 선녀 한 분이 내려왔어.
Khi Kongji cúi đầu cảm tạ trong xúc động, từ trên mây bỗng có một nàng tiên giáng xuống.

선녀:
“콩쥐야, 착한 마음씨가 고와 너를 도우러 왔단다. 이 고운 치마저고리와 꽃신을 입고 잔치에 가렴.”
“Kongji, vì tấm lòng hiền lành của con, ta đến giúp. Hãy mặc bộ váy áo lụa và đi giày hoa này để đến hội.”

콩쥐는 눈부시게 아름다운 모습으로 변했어.
Kongji bỗng hóa thành một cô gái rực rỡ, xinh đẹp đến chói lòa.

콩지 (눈물이 맺히며):
“참새들아… 선녀님… 정말 감사합니다!”
“Các bạn chim sẻ… tiên nữ ơi… con biết ơn lắm!”

콩쥐는 고운 옷차림을 하고 조심스레 잔치집으로 향했어.
Kongji trong bộ váy áo lộng lẫy bước vội đến nơi diễn ra lễ hội.

마을 사람들은 눈부시게 아름다운 콩쥐를 보고 모두 감탄했지.
Mọi người trong làng nhìn thấy Kongji xinh đẹp rực rỡ thì đều trầm trồ thán phục.

그때 마침 원님의 행차가 잔치로 들어오고 있었어.
Đúng lúc đó, đoàn quan lớn đang tiến vào hội trường.

사람들:
“아이 물러가라! 원님의 행차시다!”
“Mọi người tránh ra! Quan lớn đang đi qua!”

콩쥐는 놀라 급히 몸을 피하려다가, 그만 꽃신 한 짝을 다리 위에 떨어뜨리고 말았어.
Kongji giật mình vội tránh sang một bên, chẳng may đánh rơi một chiếc giày hoa trên cầu.

콩지 (속삭이며):
“아… 내 꽃신이…”
“Ôi… giày hoa của mình…”

하지만 콩쥐는 주울 틈도 없이 사람들 속으로 사라져야 했어.
Nhưng Kongji không kịp nhặt lại, buộc phải rời đi lẩn vào đám đông.

원님은 땅에 떨어진 꽃신을 집어 들었어.
Quan lớn nhặt lấy chiếc giày hoa rơi trên đất.

원님 (감탄하며):
“허어… 주인만큼이나 아름다운 꽃신이구나.”
“Ôi… đôi giày này đẹp hệt như chính chủ nhân của nó.”

원님은 첫눈에 콩쥐의 고운 모습에 마음을 빼앗겼어. 그는 신하들에게 명령했지.
Quan lớn ngay từ cái nhìn đầu tiên đã bị Kongji chinh phục. Ông lập tức ra lệnh cho thuộc hạ.

원님:
“어서 이 꽃신의 주인을 찾아오너라!”
“Mau đi tìm chủ nhân của chiếc giày hoa này!”

원님의 명을 받은 신하들이 집집마다 다니며 꽃신을 신겨 보았어.
Nhận lệnh quan lớn, các quan lính đi từng nhà trong làng để cho các cô gái thử giày.

신하들 (짜증 내며):
“에이구, 발이 너무 커서 꽃신이 찢어지겠네!”
“Ôi trời, chân to quá, giày hoa sắp rách mất rồi!”

“이 집도 아니고, 저 집도 아니고… 도대체 주인이 누구란 말이냐!”
“Nhà này không vừa, nhà kia cũng không… rốt cuộc chủ nhân là ai chứ!”

마침내 신하들은 콩쥐의 집에 도착했어.
Cuối cùng, lính quan cũng đến nhà Kongji.

신하:
“원님의 명이다! 이 꽃신을 신어 보아라!”
“Đây là lệnh của quan lớn! Hãy thử chiếc giày này!”

새엄마와 팥쥐는 앞다투어 꽃신을 신어 보았지만, 도무지 맞지 않았어.
Mẹ kế và Patji tranh nhau thử giày, nhưng hoàn toàn không vừa.

팥쥐 (억지로):
“아이고, 발가락이 좀 아프긴 하지만… 저한테 맞는 것 같아요!”
“Ôi trời, hơi đau ngón chân nhưng… hình như vừa với con đấy ạ!”

신하 (비웃으며):
“헛소리 마라! 꽃신이 찢어지겠구나!”
“Đừng nói nhảm! Giày sắp rách mất rồi!”

그때 누군가가 속삭였어.
Đúng lúc đó, có người khẽ lên tiếng:

“이 집엔 콩쥐라는 처녀가 있다던데, 그 아이는 왜 안 불러내는 게요?”
“Nghe nói trong nhà này có cô gái tên Kongji, sao không gọi cô ấy ra thử?”

새엄마 (버럭):
“아, 그 아이는 안 돼! 쓸모없는 계집애라니까!”
“À, con bé đó thì không cần! Nó chỉ là đứa vô dụng thôi!”

신하 (단호히):
“원님의 명은 마을의 모든 처녀가 꽃신을 신어 보는 것이다. 당장 불러오너라!”
“Lệnh của quan lớn là mọi cô gái trong làng đều phải thử giày. Mau gọi nó ra đây!”

마지못해 새엄마는 부엌에 있던 콩쥐를 불러냈어.
Miễn cưỡng, mẹ kế gọi Kongji đang ở trong bếp ra.

새엄마 (비웃으며):
“이 아이가 무슨 꽃신 주인이겠어? 허튼 소리 말고 빨리 신어봐라.”
“Con bé này thì sao có thể là chủ nhân của giày hoa? Đừng ngớ ngẩn nữa, mau thử đi.”

콩쥐는 수줍게 다가와 꽃신을 신어 보았어.
Kongji bước ra rụt rè và thử chiếc giày hoa.

그러자 놀랍게도 꽃신은 콩쥐의 발에 꼭 맞았지!
Thật kỳ diệu, đôi giày hoa vừa khít với chân Kongji!

사람들 (웅성거리며):
“어머! 꼭 맞네!”
“Ôi trời! Vừa như in!”

“콩쥐가 바로 주인공이었어!”
“Hóa ra chính Kongji mới là chủ nhân!”

콩쥐는 조심스레 짝이 맞는 다른 꽃신도 꺼내 신었어.
Kongji còn cẩn thận lấy chiếc giày còn lại và xỏ vào.

두 짝이 나란히 발에 들어맞자 모두가 입을 다물지 못했어.
Khi cả hai chiếc giày đều vừa khít, mọi người đều chết lặng kinh ngạc.

새엄마 (당황하며):
“이럴 리가 없어! 뭔가 잘못된 게 틀림없어!”
“Không thể nào! Chắc chắn có gì nhầm lẫn rồi!”

팥쥐 (울먹이며):
“엄마… 이제 어떡해요…”
“Mẹ ơi… giờ chúng ta phải làm sao đây…”

원님은 꽃신의 주인이 콩쥐임을 확인하고 크게 기뻐했어.
Quan lớn sau khi xác nhận Kongji chính là chủ nhân của giày hoa thì vô cùng vui mừng.

원님 (미소 지으며):
“착하고 아름다운 아가씨, 그대가 바로 내가 찾던 사람이오.”
“Cô gái hiền lành và xinh đẹp, chính cô là người mà ta tìm bấy lâu nay.”

원님은 사람들 앞에서 콩쥐에게 청혼했지.
Ngay trước mặt mọi người, quan lớn đã cầu hôn Kongji.

원님:
“콩쥐, 나와 함께 부부의 인연을 맺어주겠소?”
“Kongji, nàng có đồng ý nên duyên cùng ta không?”

콩지 (부끄럽게):
“…네, 원님.”
“…Vâng, thưa quan lớn.”

그리하여 두 사람은 많은 이들의 축복 속에서 부부가 되었어.
Thế là, cả hai trở thành vợ chồng trong sự chúc phúc của muôn người.

한편, 새엄마와 팥쥐는 벌을 받을 뻔했지만…
Còn mẹ kế và Patji thì suýt bị trừng phạt nặng…

원님 (엄하게):
“콩쥐를 괴롭힌 죄로 합당한 벌을 받아야 한다!”
“Vì đã hành hạ Kongji, các ngươi đáng phải nhận hình phạt!”

하지만 콩쥐는 눈을 감고 고개를 저으며 말했어.
Thế nhưng, Kongji nhắm mắt lắc đầu và nói:

콩지:
“원님, 벌하지 마세요. 저는 이미 다 잊었답니다. 함께 사이좋게 지내고 싶어요.”
“Quan lớn, xin đừng trừng phạt họ. Con đã quên hết rồi. Con chỉ mong được sống hòa thuận thôi.”

마음씨 고운 콩쥐의 말에 원님은 마음을 누그러뜨렸어.
Nghe những lời hiền hậu của Kongji, quan lớn cũng dịu lòng.

그 후, 콩쥐는 원님과 행복하게 살았고, 새엄마와 팥쥐도 콩쥐의 너그러운 마음에 감화되어 차츰 달라졌지.
Sau đó, Kongji sống hạnh phúc bên quan lớn, còn mẹ kế và Patji cũng cảm động bởi tấm lòng rộng lượng của Kongji mà dần thay đổi.

모두가 한 집에서 오순도순 살아갔단다.
Và từ đó, mọi người cùng chung sống trong hòa thuận và hạnh phúc.

🎉 Kết thúc truyện “콩쥐팥쥐 – Kongji và Patji” 🎉

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang